TIN KHOA HỌC
Đang tải...

LỊCH SỬ điều tra địa chất khoáng sản việt nam

Thảo luận trong 'Chuyên đề khoáng sản' bắt đầu bởi HUNGKS, 15/2/19.

  1. HUNGKS

    HUNGKS Level 1 Thành viên chính thức

    24
    8
    3
    Trường:
    khtn
    XUÂN AN NHIÊN, SỐNG LÀNH MẠNH
    Lịch sử điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản Việt Nam

    Nước ta có lịch sử khai khoáng từ lâu đời, nhưng công tác điều tra cơ bản địa chất, tìm kiếm thăm dò, khai thác khoáng sản chỉ mới được phát triển một cách có hệ thống từ năm 1954 trở lại đây.

    Theo Phan Huy Lê, tổng số mỏ được khai thác trong thời kỳ từ 1802 đến 1859 là 139 với 10 loại khoáng sản gồm: vàng, bạc, đồng, chì, kẽm, sắt, diêm tiêu, lưu hoàng, chu sa, sét và kaolin.

    Trong những năm thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, họ đã chú ý điều tra tài nguyên khoáng sản, lập ra Sở Mỏ Nam Bộ năm 1869, Sở Địa chất Đông Dương năm 1898 do H. Counillon làm Giám đốc đầu tiên của Sở. Theo thời gian, Sở Địa chất Đông Dương trực thuộc các cơ quan khác nhau: Tổng nha Nông nghiệp và Thương mại (1898), Tổng nha Mỏ (1921), Nha Tổng thanh tra Mỏ và Công nghiệp (1929), Nha Tổng thanh tra Công chính (1932), Nha Tổng thanh tra Mỏ và Công nghiệp (1939 – 1945).

    Từ 1927 đến 1953 đã lập xong 15 tờ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000. Năm 1937, mặc dù các tờ đã lập bản đồ địa chất chưa phủ kín toàn bộ Đông Dương, nhưng kết hợp với thành quả điều tra địa chất chung toàn vùng, J. Fromaget đã tổng hợp tài liệu để lập ra Bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1:2.000.000 đầu tiên, mà sau đó đã được bổ sung tài liệu và tái bản năm 1952. Ngoài các tờ bản đồ địa chất, kể từ năm 1908 Sở Địa chất Đông Dương đã đều đặn xuất bản các tập kỷ yếu và tập san để công bố các kết quả nghiên cứu của mình. Từ năm 1908 đến 1927 đã xuất bản 14 bộ kỷ yếu gồm 31 số và từ 1913 đến 1952 đã xuất bản 29 bộ tập san gồm 79 số.

    Để phục vụ cho nghiên cứu địa chất, năm 1914 Bảo tàng Địa chất Đông Dương được thành lập (tiền thân của Bảo tàng Địa chất ngày nay).

    - Ngành Địa chất Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)

    Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bộ Quốc dân Kinh tế đã ra nghị định ngày 2/10/1945 về cơ cấu tổ chức của Bộ trong đó có Nha Kỹ nghệ. Một năm sau, ngày 1/4/1946, Bộ Quốc dân Kinh tế ra Nghị định về tổ chức lại bộ máy của Bộ, trong đó Nha Kỹ nghệ đổi thành Nha Khoáng chất và Kỹ nghệ với nhiệm vụ: “Quản trị các mỏ, kể cả mỏ đã khai bằng hầm, thi hành các luật lệ về sự khai khẩn các mỏ, kiểm soát các chất nổ (mìn) và các chất tương tự các chất nổ, các máy chạy bằng hơi, kiểm soát sự sản xuất về khoáng chất, cốt phát, quặng,v.v…

    Làm các bản đồ địa chất học, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lịch sử địa chất của nước Việt Nam, khai thác các tài nguyên và những lĩnh vực có liên quan đến địa chất học.

    Ngày 6/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 61 về tổ chức nêu trên của Bộ Quốc dân Kinh tế.

    Do hoàn cảnh kháng chiến nên ngành Địa chất lúc đó chưa có điều kiện phát triển và mở rộng. Tuy nhiên, Chính phủ đã tổ chức phục hồi một số mỏ ở vùng tự do như các mỏ than Làng Cẩm, Quán Triều ở Thái Nguyên, Bố Hạ ở Bắc Giang, Đồi Hoa ở Hoà Bình, Khe Bố ở Nghệ An,v.v… mỏ chì Bắc Sơn, Đèo An thuộc tỉnh Bắc Cạn; mỏ antimon Đầm Hồng, Làng Can thuộc huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang;mỏ thiếc Tĩnh Túc ở Cao Bằng; mỏ sắt Như Xuân; mỏ phosphorit Vĩnh Thịnh ở Thanh Hóa;mỏ vàng Vĩnh Tuy ở Hà Giang,v.v…khai thác phục vụ nhu cầu kháng chiến và dân sinh. Đến đầu những năm 50, sản lượng khai thác các mỏ tăng hơn trước, phục vụ đắc lực cho cuộc kháng chiến giành độc lập của nhân dân ta.

    - Ngành Địa chất Việt Nam trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất Tổ quốc (1955-1975)

    Giai đoạn 1955-1960, công tác địa chất chủ yếu tập trung vào tìm kiếm đánh giá, thăm dò, khai thác các mỏ cũ, bước đầu mở ra các đề án điều tra cơ bản địa chất nhằm phát hiện mới về địa chất và khoáng sản giúp Nhà nước hoạch định kế hoạch 5 năm lần thứ nhất phát triển kinh tế đất nước.

    Tháng 9 năm 1955, Hội đồng Chính phủ đã quyết định tách Bộ Công thương thành Bộ Công nghiệp và Bộ Thương nghiệp. Sở Địa chất và Cục Khai khoáng được thành lập trực thuộc Bộ Công nghiệp.

    Để phục vụ cho nhiệm vụ chiến lược phát triển đất nước, ngày 7/7/1959 Bộ Công nghiệp đã ra Quyết định số 1225 BCN/QĐ đổi tên Sở Địa chất thành Cục Địa chất trực thuộc Bộ Công nghiệp.

    Nhiệm vụ của Cục Địa chất trong giai đoạn này là:

    - Tổ chức thăm dò địa chất, thực hiện kế hoạch Nhà nước, phát hiện đánh giá tài nguyên khoáng sản, lập bản đồ địa chất, lập dự trữ khoáng sản và tất cả số liệu để báo cáo Bộ và Nhà nước.

    - Trực tiếp quản lý tài vụ, quản lý cán bộ, lao động, quản lý tài sản, máy móc, xe cộ,… trong công tác thăm dò, đảm bảo thi hành đúng kế hoạch, chính sách và thường kỳ hạch toán báo cáo về Bộ.

    - Theo dõi, hướng dẫn công tác thăm dò địa chất địa phương, sưu tập tài liệu địa chất do nhân dân phát hiện.

    - Nhận thăm dò đánh giá khoáng sản do địa phương và các ngành yêu cầu.

    Giai đoạn 1960-1975là giai đoạn phát triển ngành Địa chất về mọi mặt. Chính phủ tập trung nguồn lực để phát triển công tác điều tra địa chất phát hiện mỏ, tìm kiếm, thăm dò các mỏ khoáng sản trên lãnh thổ miền Bắc và bước đầu triển khai công tác điều tra địa chất, khoáng sản ở miền Nam.

    Do nhiệm vụ của ngành Địa chất ngày càng lớn, đòi hỏi phải có tổ chức thích hợp, ngày 26/7/1960, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công bố sắc lệnh số 18/TCT về việc thành lập Tổng cục Địa chất trực thuộc Hội đồng Chính phủ.

    Các đơn vị trực thuộc Tổng cục:

    Cục Bản đồ

    Cục Vật lý

    Cục Vật tư

    Viện Hoá nghiệm

    Liên đoàn 2 (thành lập 1965)

    Đoàn 5 Lào Cai

    Đoàn 3 Bảo Hà

    Đoàn 6 Chì Tú Lệ (sau về Hoà Bình)

    Đoàn 8 Thái Nguyên (sau về Hà Tĩnh)

    Liên đoàn 9 (thành lập 1964)

    Đoàn 12 Thái Nguyên

    Đoàn 14 Tuyên Quang

    Đoàn 17 Cao Bằng

    Đoàn 21 Quảng Ninh

    Đoàn 24 Lào Cai

    Đoàn 31 Hà Giang

    Đoàn 32 Cổ Định

    Đoàn 35 Lai Châu

    Đoàn 36 Hưng Yên

    Đoàn 37 Cẩm Phả

    Đoàn 38 Cao Bằng

    Đoàn 39 Thái Nguyên

    Đoàn 40 Quỳ Hợp

    Đoàn 50 Yên Bái

    Đoàn 51 Yên Bái

    Đoàn 52 Na Dương, Lạng Sơn

    Đoàn 53 Bắc Giang

    Đoàn 54 Phổ Yên

    Đoàn 43 Bắc Cạn

    Đoàn 45 Hà Nội (năm 1969 chuyển thành Viện Địa chất )

    Đoàn 46 Thanh Hoá

    Đoàn 47 Nghệ An

    Đoàn 48 Cao Bằng

    Đoàn 49 Cao Bằng

    Đoàn 56 Trắc địa

    Đoàn 57 Hoà Bình

    Đoàn 58 Quảng Ninh

    Đoàn 59 Lạng Sơn

    Đoàn 60 Quảng Bình

    Đoàn 61 Ấm Thượng, Phú Thọ

    Đoàn 62 Vĩnh Phú

    Đoàn 63 Vĩnh Phú

    Đoàn 64 Sơn Tây

    Trường Trung cấp Địa chất

    Trường Công nhân

    Trường Nghiệp vu

    Trường Lái xe

    Ngày 27/11/1961, Tổng cục Địa chất quyết định thành lập Đoàn Địa chất 36. Ngày 9/10/1969 Hội đồng Chính phủ ký Quyết định số 203-CP thành lập Liên đoàn Địa chất 36 thuộc Tổng cục Địa chất với nhiệm vụ tìm kiếm và thăm dò dầu khí. Đến năm 1975, Liên đoàn Địa chất 36 được tách khỏi Tổng cục Địa chất để thành lập Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam trực thuộc Hội đồng Chính phủ (Nghị định số 170/CP ngày 3/9/1975).

    Năm 1969, Đoàn 45 Hà Nội được chuyển thành Viện Địa chất, nay là Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản Việt Nam trực thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi trường.

    Ngày 13/01/1970,Hội đồng Chính phủ ký Quyết định số 08-CP thành lậpHội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sảntrực thuộc Hội đồng Chính phủ.

    - Ngành Địa chất Việt Nam từ khi đất nước thống nhất đến nay

    Bên cạnh nhiệm vụ tiếp tục đầu tư cho công tác điều tra địa chất phát hiện mỏ mới, đánh giá, thăm dò xác định trữ lượng các loại khoáng sản ở miền Bắc tạo cơ sở nguyên liệu cho phát triển các ngành công nghiệp,ngành Địachất đã triển khai và đầu tư tích cực cho điều tra địa chất, khoáng sản ở miền Nam.

    Giai đoạn 1975-1990 là giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý công tác địa chất theo nghị quyết của Chính phủ về đổi mới công tác địa chất. Nội dung chính của công tác đổi mới là chuyển công tác quản lý khối lượng khoan, hào, lò, giếng… sang quản lý mục tiêu, chất lượng của công tác địa chất.

    Thành công lớn của giai đoạn này là đưa trụ sở các đơn vị địa chất về các thị xã, thị trấn, trung tâm văn hoá, kinh tế xã hội của các tỉnh đã tạo tiền đề và cơ sở vật chất cho ngành Địa chất phát triển.

    Ngày 2/8/1979 ông Trần Đức Lương được bổ nhiệm giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất. Năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị định số 116-HĐBT ngày 1/8/1987, thành lập Tổng cục Mỏ và Địa chất. Ông Trần Đức Lương tiếp tục được bổ nhiệm giữ chức Tổng cục trưởng.

    Năm 1987, về nhân lực Tổng cục Mỏ và Địa chất có 19.446 người, trong đó số người có trình độ trên đại học:67; đại học, cao đẳng:2.801;trung cấp:4.671; công nhân:11.907 người.

    Giai đoạn 1990-2005 là giai đoạn chuyển đổi. Cơ quan quản lý nhà nước về địa chất mà đại diện là Cục Địa chất Việt Nam sau này là Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam tập trung điều tra cơ bản phục vụ cho các ngành có liên quan và cộng đồng. Chuyển giao nhiệm vụ thăm dò các mỏ khoáng cho các Công ty và Tổng công ty thực hiện.

    Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, tổ chức bộ máy của Chính phủ giảm đáng kể các đầu mối các bộ và cơ quan ngang bộ, Tổng cục Mỏ và Địa chất được gộp cùng 3 Bộ, Tổng cục khác để thành lập Bộ Công nghiệp nặng. Với mục tiêu tách công tác quản lý nhà nước độc lập với khối sản xuất kinh doanh, Tổng cục Mỏ và Địa chất được giải thể để thành lập mới 4 đơn vị trực thuộc Bộ Công nghiệp nặng gồm Cục Địa chất Việt Nam và Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước.

    Tổng công ty Khoáng sản quý hiếm Việt Nam, thành lập năm 1990, theo Quyết định số 156-HĐBT.

    Tổng công ty Phát triển khoáng sản, thành lập năm 1991.

    Thực hiện đường lối cải cách hành chính của Đảng, ngày 04/12/1996, Chính phủ ra Nghị định số 79/CP về việc thành lập Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam trực thuộc Bộ Công nghiệp trên cơ sở hợp nhất Cục Địa chất Việt Nam và Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước.

    Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập theo Nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 05 tháng 8 năm 2002 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ nhất, trên cơ sở hợp nhất Tổng cục Địa chính, Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn và các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tài nguyên khoáng sản (thuộc Bộ Công nghiệp) và môi trường (thuộc Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường), là Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Đến nay, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã được kiện toàn và nâng cấp thành Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam.
     
    #1
    admin thích bài này.
  2. Đang tải...


Đã lưu nháp Draft deleted
Đang tải...